Gần 620.000 doanh nghiệp, tổ chức đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt đang nằm trong diện ngành thuế xử lý. Theo TS Nguyễn Ngọc Tú, cần tính đến một cơ chế mới để những doanh nghiệp thực sự rời thị trường có thể kết thúc vòng đời pháp lý nhanh hơn, thay vì để nghĩa vụ thuế và dữ liệu tồn đọng kéo dài qua nhiều năm.
Từ đầu tháng 7, ngành thuế triển khai chiến dịch “Làm sạch mã số thuế”, tập trung xử lý lượng lớn doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể. Trong số này có khoảng 292.000 doanh nghiệp đã dừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất giải thể và khoảng 325.500 đơn vị không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng vẫn tồn tại nghĩa vụ thuế chưa xử lý xong.
Đằng sau những con số này là một vấn đề kéo dài nhiều năm: doanh nghiệp có thể đã rời thị trường từ lâu nhưng trên hồ sơ pháp lý vẫn chưa thực sự “biến mất”. Mã số thuế còn tồn tại, nghĩa vụ kê khai vẫn được đặt ra, trong khi tiền phạt và tiền chậm nộp có thể tiếp tục tích tụ.
Trao đổi về vấn đề này, TS Nguyễn Ngọc Tú, nguyên Vụ trưởng Tổng cục Thuế, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Thuế, hiện là giảng viên Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, cho rằng cần nhìn nhận lại cách doanh nghiệp rút khỏi thị trường và nghiên cứu một cơ chế phù hợp hơn.
Doanh nghiệp rời thị trường ngày càng nhiều, hồ sơ tồn đọng cũng phình to
Theo TS Nguyễn Ngọc Tú, Việt Nam hiện có khoảng 1,2 triệu doanh nghiệp. Mỗi năm khoảng 200.000 doanh nghiệp mới được thành lập, nhưng 98-99% trong số đó thuộc nhóm vừa và nhỏ.
Đây cũng là khu vực có nhiều hạn chế về vốn, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận nguồn lực. Không ít chủ doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm điều hành, trong khi việc thiếu tài sản thế chấp khiến doanh nghiệp gặp khó khi tiếp cận đất đai và vốn vay.
Sau đại dịch Covid-19, những tác động kinh tế tiếp tục kéo dài, cùng với bất ổn và xung đột tại nhiều khu vực trên thế giới khiến môi trường kinh doanh trở nên khó khăn hơn. Khi doanh nghiệp mới thành lập gặp trở ngại, một bộ phận không tránh khỏi việc phải thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động.
Ước tính những năm qua, mỗi năm có khoảng 100.000-150.000 doanh nghiệp rút khỏi thị trường, tương đương 60-70% số doanh nghiệp mới thành lập.
Khi quá trình này lặp lại qua nhiều năm, số doanh nghiệp đã dừng kinh doanh nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể tiếp tục cộng dồn. Kết quả là hiện có trên 600.000 doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng vẫn chưa hoàn tất việc giải thể và đóng mã số thuế.
Đáng chú ý, một bộ phận doanh nghiệp thậm chí không còn tồn tại tại địa chỉ đăng ký. Cơ quan chức năng có trường hợp không tìm thấy doanh nghiệp tại trụ sở, thậm chí khó xác định chủ doanh nghiệp hoặc địa điểm hoạt động thực tế.
Vì sao doanh nghiệp ngừng kinh doanh nhưng vẫn để hồ sơ “treo”?
Một nguyên nhân được TS Nguyễn Ngọc Tú chỉ ra là sự thiếu hiểu biết đầy đủ về quy định pháp luật.
Không ít chủ doanh nghiệp cho rằng khi đã không còn kinh doanh, không có doanh thu thì chỉ cần dừng hoạt động là đủ. Tuy nhiên, việc ngừng kinh doanh không đồng nghĩa toàn bộ nghĩa vụ pháp lý và thuế lập tức chấm dứt.
Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các thủ tục báo cáo theo quy định. Trường hợp thay đổi địa chỉ hoạt động cũng phải thực hiện thủ tục liên quan với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Ngay cả khi không phát sinh doanh thu, doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ kê khai theo quy định.
Một nhóm khác biết rõ quy định nhưng lại lựa chọn trì hoãn. Với những khoản nghĩa vụ chỉ vài triệu hoặc vài chục triệu đồng, chủ doanh nghiệp có thể cho rằng số tiền không đáng kể và tiếp tục để doanh nghiệp tồn tại trên hệ thống.
Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn nằm ở những doanh nghiệp muốn giải thể nhưng không dễ hoàn tất thủ tục.
Theo chuyên gia, quy trình rút khỏi thị trường hiện có nhiều yêu cầu, các quy định liên quan nằm ở nhiều văn bản khác nhau. Vì vậy, thủ tục giải thể trong thực tế có thể trở nên phức tạp hơn đáng kể so với việc thành lập doanh nghiệp.
Không còn doanh thu nhưng nghĩa vụ vẫn có thể tăng theo thời gian
Đây là điểm khiến nhiều doanh nghiệp càng để lâu càng khó đóng hồ sơ.
TS Nguyễn Ngọc Tú dẫn ví dụ về lệ phí môn bài. Một doanh nghiệp dù không còn hoạt động nhưng vẫn tồn tại về hồ sơ, sổ sách thì theo chính sách được nêu trong cuộc trao đổi, nghĩa vụ này có thể tiếp tục phát sinh hằng năm. Mức được đề cập là 1-3 triệu đồng/năm.
Chẳng hạn, một doanh nghiệp dừng hoạt động từ năm 2020 nhưng đến năm 2026 vẫn chưa thực hiện thủ tục cần thiết. Nếu tính mức 3 triệu đồng mỗi năm, riêng khoản lệ phí môn bài đã lên 18 triệu đồng.
Sau đó, tiền chậm nộp có thể tiếp tục phát sinh theo thời gian. Nếu doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ kê khai theo quy định, tiền phạt liên quan cũng có thể được cộng thêm.
Với trường hợp kéo dài 6 năm, nếu tính theo chu kỳ kê khai hàng quý, số lần kê khai lên tới 24 lần.
Điều đáng nói là doanh nghiệp trong ví dụ này không tạo ra doanh thu, không hoạt động kinh doanh và không phát sinh thu nhập liên quan đến nghĩa vụ thuế, nhưng các khoản nghĩa vụ hành chính và tài chính vẫn có thể tích lũy thành vài chục triệu đồng.
Nếu tình trạng kéo dài tới 10 năm, số tiền phải xử lý có thể lên tới hàng trăm triệu đồng.
Hàng trăm nghìn doanh nghiệp “ảo” khiến dữ liệu thị trường bị nhiễu
Theo TS Nguyễn Ngọc Tú, hệ quả không chỉ nằm ở số tiền phải nộp.
Một hệ thống dữ liệu doanh nghiệp chỉ thực sự hữu ích khi phản ánh tương đối chính xác đâu là doanh nghiệp đang hoạt động, đơn vị nào đã dừng kinh doanh, doanh nghiệp nào đã giải thể và trường hợp nào vẫn còn nghĩa vụ liên quan.
Khi hàng trăm nghìn doanh nghiệp đã ngừng hoạt động trong thời gian dài nhưng vẫn xuất hiện trên hệ thống, việc nhận diện doanh nghiệp đang kinh doanh thực tế trở nên khó khăn hơn.
Rủi ro có thể lan sang các doanh nghiệp đang hoạt động bình thường. Chẳng hạn, một doanh nghiệp mua hàng, giao dịch hoặc nhận hóa đơn từ một đối tác mà thực tế đã giải thể hoặc không còn hoạt động. Nếu không nắm được tình trạng thật của đối tác, doanh nghiệp giao dịch có thể đối mặt với những hệ lụy về sau, trong đó có nguy cơ bị truy thu thuế hoặc xử phạt.
Do đó, việc cập nhật kịp thời tình trạng doanh nghiệp không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn giúp thị trường giảm rủi ro trong giao dịch.
Nếu nhìn toàn bộ hệ thống như một bức tranh, bên cạnh nhóm doanh nghiệp đang hoạt động chính thức vẫn tồn tại một “mảng tối” gồm những đơn vị đã rời thị trường nhưng chưa được xử lý dứt điểm.
Thành lập nhanh, giải thể cũng cần đơn giản tương ứng
Từ thực tế trên, TS Nguyễn Ngọc Tú cho rằng cải cách thể chế là hướng cần được tính đến.
Trước mắt, Chính phủ nên nghiên cứu một quy trình giải thể thống nhất, rõ ràng và đơn giản hơn để doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường thuận lợi.
Theo ông, nếu việc thành lập doanh nghiệp hiện tương đối nhanh, với một bộ hồ sơ gồm thông tin về chủ doanh nghiệp, người đại diện, vốn điều lệ, giám đốc, tài khoản…, thì quy trình chấm dứt hoạt động cũng cần được thiết kế theo hướng tương tự về mức độ thuận tiện.
Một đề xuất đáng chú ý là nghiên cứu cơ chế cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục “khai tử” trước, trong khi những khoản nợ thuế hoặc nghĩa vụ tài chính còn tồn tại tiếp tục được xử lý theo quy định.
Cùng với đó, có thể xem xét miễn hoặc giảm tiền phạt, tiền chậm nộp đối với những trường hợp đủ điều kiện, đặc biệt là doanh nghiệp đã dừng hoạt động thực tế trong thời gian dài, không có doanh thu và không có dấu hiệu vi phạm.
Có thể tự động đóng mã số thuế sau 3 năm không hoạt động?
Về lâu dài, TS Nguyễn Ngọc Tú đề xuất nghiên cứu cơ chế tự động đóng mã số thuế đối với doanh nghiệp đáp ứng những điều kiện nhất định.
Ví dụ, doanh nghiệp 3 năm liên tục không kinh doanh, không còn hoạt động, không báo cáo và không kê khai thuế có thể được đưa vào diện xem xét đóng mã số thuế tự động.
Với những doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, nếu cơ quan quản lý xác định tình trạng này kéo dài liên tục 3 năm, cũng có thể nghiên cứu phương án xử lý tương tự.
Theo đề xuất, cơ chế này có thể mang lại ba lợi ích.
Thứ nhất, dữ liệu doanh nghiệp được làm sạch, qua đó nâng cao chất lượng thông tin phục vụ quản lý.
Thứ hai, doanh nghiệp đã thực sự rời thị trường không tiếp tục phải đối mặt với tình trạng nghĩa vụ kéo dài do hồ sơ chưa được khép lại.
Thứ ba, cơ quan quản lý có cơ sở phân loại rõ hơn giữa doanh nghiệp không còn hoạt động và những trường hợp vẫn tồn tại nghĩa vụ tài chính thực tế.
Tuy nhiên, để vận hành cơ chế này, cần có quy định pháp lý cụ thể, đồng thời bảo đảm khả năng xử lý hoặc khôi phục trong những trường hợp cần thiết.
Nợ thuế nhỏ: Có nên tiếp tục tốn chi phí để truy thu?
Đối với nhóm doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng vẫn có nợ thuế, vấn đề đặt ra là làm thế nào để vừa bảo đảm nghĩa vụ với ngân sách, vừa tránh kéo dài một quy trình hành chính tốn kém.
Theo TS Nguyễn Ngọc Tú, nhiều khoản nợ của các doanh nghiệp này có giá trị rất nhỏ. Muốn thu hồi vẫn phải xác định chủ doanh nghiệp và trách nhiệm liên quan.
Pháp luật hiện hành đã có nhiều biện pháp xử lý đối với nghĩa vụ thuế chưa hoàn thành, trong đó có các biện pháp như đình chỉ kinh doanh, cấm xuất cảnh, trích tiền từ tài khoản ngân hàng và những hình thức khác theo quy định.
Tuy nhiên, bài toán hiệu quả quản lý cũng cần được đặt lên bàn cân.
Chẳng hạn, với một doanh nghiệp chỉ còn khoản nợ khoảng 1 triệu đồng hoặc thấp hơn, chi phí để xác minh, quản lý, truy thu và xử lý kéo dài có thể lớn hơn số tiền thực tế thu được.
Vì vậy, chuyên gia cho rằng có thể nghiên cứu một ngưỡng xử lý phù hợp. Với các khoản nợ dưới 1 triệu đồng, có thể xem xét cơ chế miễn hoặc xử lý dứt điểm, đồng thời miễn các khoản phạt liên quan trong những trường hợp đáp ứng điều kiện.
“Đóng cửa” doanh nghiệp cũng là một phần của môi trường kinh doanh
Câu chuyện hơn 600.000 doanh nghiệp chưa hoàn tất thủ tục rời thị trường cho thấy bài toán quản lý không chỉ nằm ở việc thu được bao nhiêu tiền thuế.
Một môi trường kinh doanh hiệu quả cần có cả cơ chế gia nhập và cơ chế rút lui phù hợp. Doanh nghiệp thành lập thuận lợi nhưng khi thất bại lại phải mất nhiều năm để hoàn tất thủ tục, trong khi nghĩa vụ tài chính tiếp tục phát sinh, sẽ tạo thêm áp lực cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý.
Nếu có thể phân loại chính xác doanh nghiệp nào đã thực sự chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp nào còn nghĩa vụ tài chính và trường hợp nào có dấu hiệu cần xử lý, hệ thống quản lý sẽ minh bạch hơn.
Quan trọng hơn, những người đã thất bại trong kinh doanh có cơ hội khép lại hoạt động cũ một cách rõ ràng, thay vì để doanh nghiệp “treo” trên hệ thống suốt nhiều năm.
Đề xuất nghiên cứu cơ chế tự động đóng mã số thuế sau một khoảng thời gian không hoạt động vì thế đặt ra một câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để doanh nghiệp có thể rời thị trường đúng quy định, nhanh và minh bạch, trong khi Nhà nước vẫn bảo đảm quyền thu các khoản nghĩa vụ tài chính thực tế?
Đây có thể là một hướng cần được tiếp tục nghiên cứu trong quá trình cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện môi trường kinh doanh.

